Công văn 1195/NBI-QLDN3:
Theo đó, Thuế tỉnh Ninh Bình nhướng dẫn về việc ủy quyền cho cá nhân là người lao động thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào như sau:
Tại khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định:
Điều 14. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
…2. Điều kiện khấu trì thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
a) Có hóa đơn giả trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng tử nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Luật này Bộ trưởng Bộ Tài chỉnh quy định chứng từ nộp thuế giả trị gia tăng thay cho phía nước ngoài,
b) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ,
c) Đổi với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bản, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ, hỏa đơn bàn hàng hóa, cung cấp dịch vụ, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, phiếu dòng gỏi, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Chính phủ quy định về điều kiện khấu trừ đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sản thương mại điện tử ở nước ngoài và một số trường hợp đặc thù khác.
…
Tại Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định:
Điều 26. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toàn không dùng tiên mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:
1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chúng mình việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toàn không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
2. Một số trường hợp đặc thủ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng bao gồm:
…
i) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cả nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dừng tiền mặt theo quy chế tới chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toàn lại cho người lao động bằng hình thức thanh toàn không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
3. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ của một người nộp thuế có giả trị đười 05 triệu đồng nhưng mua nhiều lần trong cùng một ngày có tổng giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khẩu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toàn không dùng tiền mặt.
…
Căn cứ tại khoản 10 Điều 3 Nghị định 52/2024/NĐ-CP quy định về phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như sau:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…10. Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là phương tiện thanh toán) là phương tiện do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, công ty tài chỉnh được phép phát hành thẻ tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toàn cung ứng dịch vụ vì điện tử phát hành và được khách hàng sử dụng nhằm thực hiện giao dịch thanh toán, bao gồm: séc, lệnh chỉ, ủy nhiệm chi, nhớ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng (bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước), vì điện tử và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
…
Căn cứ tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 52/2024/NĐ-CP quy định sử dụng và ủy quyền sử dụng tài khoản thanh toán như sau:
Điều 10. Sử dụng và ủy quyền sử dụng tài khoản thanh toán
…2. Chủ tài khoản thanh toàn được ủy quyền trong sử dụng tài khoản thanh toàn. Việc ủy quyền phải thực hiện bằng văn bản, phù hợp với quy định pháp luật về ủy quyền.
…
Như vậy, căn cứ quy định trên, Thuế tỉnh Ninh Bình trả lời nguyên tắc như sau:
Trường hợp Công ty phát sinh hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của Công ty thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của Công ty được ban hành hợp lệ trước thời điểm thực hiện giao dịch thanh toán và việc ủy quyền nêu trên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về ủy quyền, sau đó Công ty thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khẩu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.

Trường hợp đặc thù được thanh toán không dùng tiền mặt mới nhất
Theo khoản 2 Điều 25 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, cụ thể có 09 số trường hợp đặc thù được thanh toán không dùng tiền mặt, bao gồm:
(1) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.
(2) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua bên thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn đối với khoản vay, mượn bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà bên bán hỗ trợ cho bên mua, hoặc nhờ bên mua chi hộ.
(3) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán không dùng tiền mặt (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán không dùng tiền mặt cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.
(4) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng cổ phiếu, trái phiếu mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng mua bán dưới hình thức văn bản được lập trước đó.
(5) Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu tại điểm a, b, c và d khoản khoản 2 Điều 25 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định chi tiết điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
(6) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán không dùng tiền mặt vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào xác định tương ứng với số tiền chuyển vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước.
(7) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
– Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
– Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
(8) Trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới 05 triệu đồng theo giá đã có thuế giá trị gia tăng và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biểu, quà tặng, hàng mẫu không phải trả tiền của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thì không cần chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào.
(9) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
🛡️ LUẬT VIÊN TƯỜNG – VỮNG PHÁP LÝ, TRỌN NIỀM TIN
📞 Liên hệ ngay hôm nay để được tư vấn MIỄN PHÍ ban đầu!
📍 Địa chỉ: 24 (Tầng Trệt) Trương Văn Thành, Phường Tăng Nhơn Phú, Tp. HCM
📱 Hotline: 0984 39 12 39
🌐 Website: www.luatvientuong.vn
🚩 Fanpage: facebook.com/LuatVienTuong


